Hệ thống kiểm soát tia sáng cường độ cao của Volvo sử dụng camera đặt ở phía trước để phát hiện các phương tiện khác. Thông tin thu được từ camera này sẽ được gửi đến modul điều khiển ánh sáng đèn pha, trên đèn pha có các miếng kim loại với kích thước khác nhau được sử dụng để che bớt luồng sáng ở những vị trí nhất định. Volvo cho biết thêm, hệ thống điều khiển chùm sáng mới sẽ hoạt động khi chiếc xe chạy ở tốc độ trên 15 km/h, và độ chính xác trong vòng 1,5°.
Hệ thống đèn pha an toàn mới của Volvo giúp lái xe có tầm nhìn tốt hơn trong khi không khiến những phương tiện đi ngược chiều bị mất tầm nhìn.
Volvo đã công bố kế hoạch giới thiệu hệ thống đèn pha mới có tính năng điều chỉnh chùm sáng tại Geneva Motor Show 2013. Hãng xe đến từ Thụy Điển cho biết sẽ công bố “công nghệ tránh va chám mới lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới” tại Geneva.
Hệ thống đèn pha với chùm tia sáng cường độ cao đang xuất hiện ngày càng nhiều trong ngành công nghiệp xe hơi, nhưng Volvo sẽ mang tới Geneva một công nghệ mới mà hãng vừa phát triển. Trong khi hầu hết các hệ thống đèn pha tạo ra chùm sáng cường độ cao trên toàn bộ con đường và sẽ giảm cường độ sáng khi phát hiện xe phía trước, hệ thống đèn pha mới của Volvo lại che đi luồng sáng chiếu vào những chiếc xe đi phía trước, tập trung ánh sáng vào các khu vực xung quanh, cho phép mở rộng phạm vi chiếu sáng ở phần còn lại trên đường.
“Mục tiêu của chúng tôi khi nghiên cứu công nghệ điều khiển tia sáng nhằm tăng cường khả năng hiển thị trong bóng tối bằng cách giữ nguyên hướng chiếu sáng, mà không cần chuyển đổi chùm sáng khi xe phát hiện hay đến gần những chiếc xe phía trước,” Giáo sư Lotta Jakobsson, chuyên gia cao cấp về an toàn tại Trung tâm An toàn xe hơi Volvo, cho biết.
Hệ thống điều khiển chùm sáng của Volvo sẽ được ra mắt trên chiếc S60, V60 và XC60, và sẽ được bán ra từ mùa xuân năm nay.
Ngoài hệ thống điều khiểm chùm sáng, Volvo sẽ ra mắt một tính năng an toàn khác tại Geneva Motor Show 2013. Tuy nhiên, chi tiết về tính năng này sẽ chỉ được Volvo công bố tại Geneva.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giá Xe Hơi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giá Xe Hơi. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Sáu, 9 tháng 9, 2016
Những xe cũ đáng mua và những xe cần nên tránh xa
Không chỉ lái thử và đánh giá xe, tạp chí Consumer Reports (CR) của Mỹ còn thực hiện những bài khảo sát về chất lượng sản phẩm. Theo đó, mỗi năm, CR lại hỏi gần 1 triệu độc giả về chất lượng những chiếc xe mà họ đang sử dụng.
Những cái tên do tạp chí Consumer Reports đưa ra đều nằm trong khoảng giá từ dưới 10.000 - 25.000 Đô la Mỹ.
Sau đó, CR tổng hợp ý kiến của độc giả và đưa ra bản danh sách những chiếc xe cũ đáng mua cũng như nên tránh xa cho từng năm. 2013 cũng không phải là ngoại lệ.
Tạp chí CR đã chỉ ra tên những mẫu xe sedan, SUV và cỡ nhỏ đã qua sử dụng trong 4 khoảng giá, từ dưới 10.000 - 25.000 Đô la Mỹ. Qua đó, người tiêu dùng có thể biết nên mua hoặc tránh xe loại xe nào.
Danh sách những mẫu xe cũ đáng mua cho năm 2013 của CR:
Khoảng giá dưới 10.000 Đô la Mỹ
Trong khoảng giá thấp nhất, CR khuyên người tiêu dùng nên mua xe Pontiac Vibe 2009 nếu thích dòng sản phẩm cỡ nhỏ. Đây là nhãn hiệu Mỹ duy nhất lọt vào danh sách của CR ở khoảng giá dưới 10.000 Đô la Mỹ.
Pontiac Vibe 2009
Trong khi đó, mẫu sedan nên mua là Hyundai Sonata 2008 phiên bản trang bị động cơ 4 xi-lanh và Acura TSX 2004. Cuối cùng là Toyota RAV4 2004 phiên bản 4 xi-lanh với vai trò đại diện của phân khúc SUV.
Khoảng giá từ 10.000 - 15.000 Đô la Mỹ
Toàn bộ những chiếc cũ đáng mua trong khoảng giá này đều là sản phẩm đến từ Nhật Bản. Đại diện của phân khúc xe cỡ nhỏ là Honda Fit và Mazda3 2011.
Honda Fit 2011
Mẫu sedan cũ trị giá từ 10.000 - 15.000 Đô la Mỹ đáng mua nhất là Honda Accord V6 đời 2006-2007 và Acura TL 2005-2006. Mẫu SUV cỡ nhỏ nên mua là Toyota RAV4 2006-2008 và Honda CR-V 2005-2007. Trong khi đó, Toyota Highlander V6 đời 2004-2007 và Infiniti FX 2003-2004 được chọn trong phân khúc SUV cỡ trung/lớn.
Khoảng giá từ 15.000 - 20.000 Đô la Mỹ
Mazda CX-9 2009
Toyota Prius 2010-2011 và Hyundai Elantra 2011-2012 là hai mẫu sedan cỡ nhỏ đã qua sử dụng đáng mua trong khoảng giá từ 15.000 - 20.000 Đô la Mỹ. Hai đại diện của phân khúc sedan cỡ trung là Toyota Camry 2011-2012 phiên bản 4 xi-lanh và Infiniti M 2006-2007. Ở phân khúc SUV, tạp chí CR gọi tên Honda Pilot 2007-2008 và Mazda CX-9 đời 2009.
Khoảng giá từ 20.000 - 25.000 Đô la Mỹ
BMW 3-Series 2009
Thật ngạc nhiên khi chỉ có đúng một mẫu xe Đức lọt vào mắt xanh của tạp chí CR, đó là BMW 328i 2009. Thành viên của gia đình BMW chia sẻ vị trí với Infiniti G 2009 và Toyota Avalon 2010 trong phân khúc sedan. Trong khi đó, Acura MDX 2007-2008 và Lexus RX 2008 được đánh giá cao nhất phân khúc SUV.
Những mẫu xe cũ nên tránh:
Tạp chí CR đã chỉ ra 20 mẫu xe cũ đời 2003-2012 nên tránh mua với sự xuất hiện của rất nhiều nhãn hiệu Mỹ. Trong đó, có 7 mẫu xe Chrysler bị liệt kê, 4 ôtô GM và 2 Ford.
Ngoài ra, còn có những chiếc xe Đức như BMW 7-Series, BMW X5, MINI Cooper S, Mercedes-Benz GL-Class và Volkswagen Touareg. Một sản phẩm của người Hàn Quốc cũng lọt vào danh sách, đó là Kia Sorento V6.
Những cái tên do tạp chí Consumer Reports đưa ra đều nằm trong khoảng giá từ dưới 10.000 - 25.000 Đô la Mỹ.
Sau đó, CR tổng hợp ý kiến của độc giả và đưa ra bản danh sách những chiếc xe cũ đáng mua cũng như nên tránh xa cho từng năm. 2013 cũng không phải là ngoại lệ.
Tạp chí CR đã chỉ ra tên những mẫu xe sedan, SUV và cỡ nhỏ đã qua sử dụng trong 4 khoảng giá, từ dưới 10.000 - 25.000 Đô la Mỹ. Qua đó, người tiêu dùng có thể biết nên mua hoặc tránh xe loại xe nào.
Danh sách những mẫu xe cũ đáng mua cho năm 2013 của CR:
Khoảng giá dưới 10.000 Đô la Mỹ
Trong khoảng giá thấp nhất, CR khuyên người tiêu dùng nên mua xe Pontiac Vibe 2009 nếu thích dòng sản phẩm cỡ nhỏ. Đây là nhãn hiệu Mỹ duy nhất lọt vào danh sách của CR ở khoảng giá dưới 10.000 Đô la Mỹ.
Pontiac Vibe 2009
Trong khi đó, mẫu sedan nên mua là Hyundai Sonata 2008 phiên bản trang bị động cơ 4 xi-lanh và Acura TSX 2004. Cuối cùng là Toyota RAV4 2004 phiên bản 4 xi-lanh với vai trò đại diện của phân khúc SUV.
Khoảng giá từ 10.000 - 15.000 Đô la Mỹ
Toàn bộ những chiếc cũ đáng mua trong khoảng giá này đều là sản phẩm đến từ Nhật Bản. Đại diện của phân khúc xe cỡ nhỏ là Honda Fit và Mazda3 2011.
Honda Fit 2011
Mẫu sedan cũ trị giá từ 10.000 - 15.000 Đô la Mỹ đáng mua nhất là Honda Accord V6 đời 2006-2007 và Acura TL 2005-2006. Mẫu SUV cỡ nhỏ nên mua là Toyota RAV4 2006-2008 và Honda CR-V 2005-2007. Trong khi đó, Toyota Highlander V6 đời 2004-2007 và Infiniti FX 2003-2004 được chọn trong phân khúc SUV cỡ trung/lớn.
Khoảng giá từ 15.000 - 20.000 Đô la Mỹ
Mazda CX-9 2009
Toyota Prius 2010-2011 và Hyundai Elantra 2011-2012 là hai mẫu sedan cỡ nhỏ đã qua sử dụng đáng mua trong khoảng giá từ 15.000 - 20.000 Đô la Mỹ. Hai đại diện của phân khúc sedan cỡ trung là Toyota Camry 2011-2012 phiên bản 4 xi-lanh và Infiniti M 2006-2007. Ở phân khúc SUV, tạp chí CR gọi tên Honda Pilot 2007-2008 và Mazda CX-9 đời 2009.
Khoảng giá từ 20.000 - 25.000 Đô la Mỹ
BMW 3-Series 2009
Thật ngạc nhiên khi chỉ có đúng một mẫu xe Đức lọt vào mắt xanh của tạp chí CR, đó là BMW 328i 2009. Thành viên của gia đình BMW chia sẻ vị trí với Infiniti G 2009 và Toyota Avalon 2010 trong phân khúc sedan. Trong khi đó, Acura MDX 2007-2008 và Lexus RX 2008 được đánh giá cao nhất phân khúc SUV.
Những mẫu xe cũ nên tránh:
Tạp chí CR đã chỉ ra 20 mẫu xe cũ đời 2003-2012 nên tránh mua với sự xuất hiện của rất nhiều nhãn hiệu Mỹ. Trong đó, có 7 mẫu xe Chrysler bị liệt kê, 4 ôtô GM và 2 Ford.
Ngoài ra, còn có những chiếc xe Đức như BMW 7-Series, BMW X5, MINI Cooper S, Mercedes-Benz GL-Class và Volkswagen Touareg. Một sản phẩm của người Hàn Quốc cũng lọt vào danh sách, đó là Kia Sorento V6.
Có 156 nút bấm và công tắc ở bên trong Mercedes-Benz S-Class mới
Một tính năng khác ở chiếc xe này đó là hai ghế sau độc lập có thể ngả ra 43,5 độ. Có 14 đệm không khí được bố trí trong mỗi ghế và nó hoạt động giống như hệ thống massage, với sáu chương trình hoạt động khác nhau. Đây là trang bị chuẩn trên S-Class mới.
Bên cạnh đó là những trang bị chỉ có thể tìm thấy trên những chiếc xe tuyệt vời nhất thế giới.
Theo thông tin được các quan chức của Mercedes-Benz tiết lộ với tờ Autoweek, bên trong cabin của chiếc S-Class mới có rất nhiều các nút bấm và công tắc. Trong đó 12 nút trên vô-lăng, 23 nút trên cửa bên phía lái xe, 13 nút bấm trên cửa ghế hành khách phía trước.
Trên bảng điều khiển trung tâm ở phía trước của chiếc sedan hạng sang tuyệt vời này có 19 nút bấm, có thêm 3 nút bấm dành riêng cho chỗ ngồi bên ghế lái. Ngoài ra, có 4 nút điều chỉnh các lỗ thông hơi điều hòa trên bảng điều khiển, 3 nút điều chỉnh gương chiếu hậu mỗi bên và 10 nút điều chỉnh trên nóc xe phía trước...
Ở phía sau, có 30 nút bấm chia đều sang hai bên cửa ở hàng ghế sau, có 9 nút bấm ở bảng điều khiển trung tâm phía sau, có thêm 2 nút bấm cho các lỗ thông hơi điều hòa. Riêng trên phần để tay và là nơi để cốc hay chai rượu ở hàng ghế sau có thêm 3 nút bấm, mỗi màn hình dành cho hàng ghế sau có 4 nút bấm.
Chiếc xe còn có hai màn hình có kích thước 12,3 inch, hai màn hình độ phân giải cao này đóng vai trò là cụm công-tơ-mét và là màn hình hiển thị các chức năng đang hoạt động của chiếc xe.
Ngoài ra, Mercedes-Benz S-Class mới còn là chiếc xe đầu tiên được trang bị “hệ thống nước hoa linh động”, với tính năng ion hóa để làm sạch không khí và sau đó phun nước hoa để tạo ra mùi hương dễ chịu trong cabin xe.
Mercedes-Benz cho biết, cabin của chiếc xe được thiết kế dành cho phiên bản trục cơ sở tiêu chuẩn, phiên bản trục cơ sở dài được xây dựng để thay thế những chiếc Maybach sẽ có cabin được thiết kế khác.
Một điểm khác cũng không thể bỏ qua đó chính là hệ thống âm thanh công suất 1.500 Watt bên trong cabin của chiếc sedan hạng sang cỡ lớn này, hệ thống âm thanh này do Burmester cung cấp, với 24 loa vệ tinh tạo ra hiệu ứng âm thanh 3D tuyệt vời.
Theo thông tin được các quan chức của Mercedes-Benz tiết lộ với tờ Autoweek, bên trong cabin của chiếc S-Class mới có rất nhiều các nút bấm và công tắc. Trong đó 12 nút trên vô-lăng, 23 nút trên cửa bên phía lái xe, 13 nút bấm trên cửa ghế hành khách phía trước.
Trên bảng điều khiển trung tâm ở phía trước của chiếc sedan hạng sang tuyệt vời này có 19 nút bấm, có thêm 3 nút bấm dành riêng cho chỗ ngồi bên ghế lái. Ngoài ra, có 4 nút điều chỉnh các lỗ thông hơi điều hòa trên bảng điều khiển, 3 nút điều chỉnh gương chiếu hậu mỗi bên và 10 nút điều chỉnh trên nóc xe phía trước...
Ở phía sau, có 30 nút bấm chia đều sang hai bên cửa ở hàng ghế sau, có 9 nút bấm ở bảng điều khiển trung tâm phía sau, có thêm 2 nút bấm cho các lỗ thông hơi điều hòa. Riêng trên phần để tay và là nơi để cốc hay chai rượu ở hàng ghế sau có thêm 3 nút bấm, mỗi màn hình dành cho hàng ghế sau có 4 nút bấm.
Chiếc xe còn có hai màn hình có kích thước 12,3 inch, hai màn hình độ phân giải cao này đóng vai trò là cụm công-tơ-mét và là màn hình hiển thị các chức năng đang hoạt động của chiếc xe.
Ngoài ra, Mercedes-Benz S-Class mới còn là chiếc xe đầu tiên được trang bị “hệ thống nước hoa linh động”, với tính năng ion hóa để làm sạch không khí và sau đó phun nước hoa để tạo ra mùi hương dễ chịu trong cabin xe.
Mercedes-Benz cho biết, cabin của chiếc xe được thiết kế dành cho phiên bản trục cơ sở tiêu chuẩn, phiên bản trục cơ sở dài được xây dựng để thay thế những chiếc Maybach sẽ có cabin được thiết kế khác.
Một điểm khác cũng không thể bỏ qua đó chính là hệ thống âm thanh công suất 1.500 Watt bên trong cabin của chiếc sedan hạng sang cỡ lớn này, hệ thống âm thanh này do Burmester cung cấp, với 24 loa vệ tinh tạo ra hiệu ứng âm thanh 3D tuyệt vời.
Thiết bị cản trở tài xế nhắn tin trong khi lái xe
Điện thoại có thể được lấy ra một cách an toàn khi phanh tay đã được kéo lên, và cho phép nhắn tin khi động cơ vẫn nổ nhưng xe không chạy. ORIGOSafe có giá 279 Đô la Mỹ kể chi phí lắp đặt
Thiết bị này ngăn tài xế cầm điện thoại mà chỉ cho phép họ đàm thoại thông qua chế độ loa ngoài hoặc tai nghe bluetooth.
Theo đó, ORIGOSafe sẽ được lắp đặt vào bảng điều kiển trung tâm của xe. Để có thể khởi động, tài xế bắt buộc phải đưa điện thoại vào trong ORIGOSafe. Trong lúc lái xe, điện thoại sẽ được sạc điện, và người lái vẫn có thể nhận và thực hiện cuộc gọi thông qua kết nối bluetooth hoặc chế độ loa ngoài.
Hiện ORGIOSafe đang được quảng bá đến các bậc cha mẹ có con đang ở độ tuổi thanh niên, vì đây là độ tuổi rất thường hay nhắn tin, ngoài ra thì các bậc phụ huynh cũng có thể dùng cho tài xế riêng của gia đình.
Nếu lấy điện thoại ra khi xe đang chạy sẽ kích hoạt chuông báo động vang lên và động cơ sẽ bị ngắt, kể cả khi đặt điện thoại trở lại vẫn không thể khởi động xe. Lúc này chỉ có điện thoại của người quản lý hệ thống ORIGOSafe (chẳng hạn là điện thoại của cha mẹ) mới có thể mở khoá cho người dùng đã rút điện thoại ra đó.
Theo thống kê của Hiệp hội xe hơi Mỹ: 7 trên 10 tài xế nhắn tin khi lái xe. Còn nghiên cứu của đại học Bách khoa Virginia tiến hành, việc nhắn tin khi lái xe có nguy cơ gây tai nạn cao hơn đến 23,2 lần.
Thiết bị này ngăn tài xế cầm điện thoại mà chỉ cho phép họ đàm thoại thông qua chế độ loa ngoài hoặc tai nghe bluetooth.
Theo đó, ORIGOSafe sẽ được lắp đặt vào bảng điều kiển trung tâm của xe. Để có thể khởi động, tài xế bắt buộc phải đưa điện thoại vào trong ORIGOSafe. Trong lúc lái xe, điện thoại sẽ được sạc điện, và người lái vẫn có thể nhận và thực hiện cuộc gọi thông qua kết nối bluetooth hoặc chế độ loa ngoài.
Hiện ORGIOSafe đang được quảng bá đến các bậc cha mẹ có con đang ở độ tuổi thanh niên, vì đây là độ tuổi rất thường hay nhắn tin, ngoài ra thì các bậc phụ huynh cũng có thể dùng cho tài xế riêng của gia đình.
Nếu lấy điện thoại ra khi xe đang chạy sẽ kích hoạt chuông báo động vang lên và động cơ sẽ bị ngắt, kể cả khi đặt điện thoại trở lại vẫn không thể khởi động xe. Lúc này chỉ có điện thoại của người quản lý hệ thống ORIGOSafe (chẳng hạn là điện thoại của cha mẹ) mới có thể mở khoá cho người dùng đã rút điện thoại ra đó.
Theo thống kê của Hiệp hội xe hơi Mỹ: 7 trên 10 tài xế nhắn tin khi lái xe. Còn nghiên cứu của đại học Bách khoa Virginia tiến hành, việc nhắn tin khi lái xe có nguy cơ gây tai nạn cao hơn đến 23,2 lần.
Động cơ tăng áp – hiệu suất cao có đi kèm với tiết kiệm nhiên liệu?
Xe tăng áp cho phép nhà sản xuất giữ cho sức mạnh đầu ra cao trong khi động cơ nhỏ gọn hơn vì mục tiêu tiết kiệm nhiên liệu. Nhưng phần lớn chỉ số dặm/gallon đáng tự hào sẽ mất đi khi người điều khiển đạp chân ga và tận hưởng hiệu suất cao mà tăng áp mang lại.
Một số hãng xe nói rằng tua-bin tăng áp của họ cung cấp khả năng khả năng tăng tốc nhanh chóng, lại tiết kiệm xăng, nhưng thực tế cần được xem xét.
Hệ thống tăng áp vẫn sẽ phát triển rộng rãi bởi các hãng xe phải giảm kích thước động cơ xăng để đáp ứng tiêu chuẩn an toàn môi trường đang dần thắt chặt. Ước tính, số xe tích hợp động cơ tăng áp sẽ chiếm 25% tổng số xe mới tại thị trường Bắc Mỹ vào năm 2017, theo dự đoán của LMC Automotive. Nhưng hạn chế của tăng áp như tiết kiệm nhiên liệu để lại rất nhiều cơ hội cho động cơ diesel, hybrid và động cơ điện trong những năm tới.
Ấn tượng từ một số quảng cáo của Ford Motor Co. cho thấy hãng xe đang mong muốn phát huy tiềm năng tiết kiệm nhiên liệu của động cơ tăng áp EcoBoost. Bản thân cái tên động cơ đã ngụ ý rằng một tua-bin tăng áp kết hợp giữa tiết kiệm nhiên liệu (Eco) và hiệu suất (Boost).
Với Chevrolet, một biểu ngữ lớn trên trang web gần đây đã giới thiệu về mẫu xe Cruze Eco với động cơ tăng áp 1.4 lít có chỉ số tiêu thụ nhiên liệu “42 dặm/gallon và chẳng phải hi sinh niềm vui thích” cho thấy chiếc xe vẫn có thể đảm bảo tính tiết kiệm ngay cả khi người lái sử dụng tăng áp thường xuyên.
Con số thực tế
Bất chấp chiến dịch marketing cho khả năng tiết kiệm của động cơ tăng áp, con số thực tế lại phản ánh điều ngược lại.
Ví dụ mẫu xe Dodge Dart với động cơ tăng áp 1.4 lít đạt thông số 39 dặm/gallon trên đường cao tốc theo đánh giá của EPA. Nhưng trong thử nghiệm thực tế gần đây của tạp chí Car and Driver, Dart đạt điểm thấp hơn 39 dặm/gallon bởi biên tập viên gắn một đồng hồ đo nhiên liệu vào xe để lấy kết quả chính xác về khả năng tiết kiệm. Theo tạp chí này, tại tốc độ 120 km/h trên đường cao tốc và với điều hòa không khí đang bật, máy tính trên xe cho thấy chỉ số tiêu hao trung bình là 33 dặm/gallon. Để đạt được con số xấp xỉ 40 dặm/gallon sẽ cần tới sự kiên nhẫn và tốc độ chậm hơn khá nhiều.
“Khi nhắc đến tăng áp, chúng ta thường nghĩ ngay đến hiệu suất, nhưng khi bạn lái xe càng nhanh, khả năng tiết kiệm nhiên liệu càng kém” – Mike Omotoso, quản lý cấp cao về dự báo hệ thống truyền lực của LMC Automotive cho biết.
Consumer Reports gần đây cũng tiến hành thử nghiệm với 11 mẫu xe tăng áp từ 7 hãng khác nhau để kiểm tra khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Kết quả với lộ trình kết hợp giữa đường trong thành phố và đường cao tốc cho thấy tất cả các xe đều đạt chỉ số thấp hơn vài dặm cho mỗi gallon so với ước tính của EPA.
Ngoài ra, xét trên khía cạnh kinh tế, người tiêu dùng thường phải trả thêm ít nhất 1,000 USD cho động cơ tăng áp mà trong nhiều trường hợp, sau khi tính toán, lại không tiết kiệm nhiên liệu bằng động cơ thông thường.
Hãng xe Honda đã lặng lẽ tháo bỏ động cơ tăng áp 4 xy-lanh, dung tích 2.4 lít trên mẫu xe Acura RDX 2013 và thay thế bằng một động cơ không tăng áp lớn hơn để có thể tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn. Động cơ tăng áp, theo đánh giá của EPA đạt mức tiêu hao 19 dặm đường thành thị/ 24 dặm đường cao tốc/ 21 dặm đường kết hợp cho mỗi gallon nhiên liệu đã được thay thế bằng động cơ V-6 dung tích 3.5 lít với mức tiêu hao 20 dặm đường thành thị/ 28 dặm đường cao tốc/ 23 dặm đường kết hợp.
Các biên tập viên của trang web pickuptrucks.com đã đặt hai chiếc xe Ford F-150s vào một thử nghiệm sức kéo, một chiếc sử dụng động cơ V-6 tăng áp kép, chiếc còn lại sử dụng động cơ V-8 dung tích 5.0 lít. Phần thắng trong cuộc thi tiết kiệm nhiên liệu thuộc về động cơ lớn hơn, 9.4 dặm/gallon cho động cơ V-8 so với 7.2 dặm/gallon với động cơ V-6 EcoBoost.
Tuy nhiên, phát ngôn viên của hãng Ford cho biết khách hàng hoàn toàn hài lòng với hệ thống tăng áp của mẫu xe bán tải F-150. Tiết kiệm nhiên liệu là tiêu chí xem xét hàng đầu của khách hàng khi lựa chọn động cơ EcoBoost. Dữ liệu cho thấy, F-150 dẫn đầu trong danh sách những mẫu xe bán tải hạng nhẹ khiến khách hàng hài lòng về tính kinh tế.
Ford đã rất tích cực với hệ thống tăng áp. Khoảng 80% đại lý xe ở Bắc Mỹ có sẵn tùy chọn động cơ EcoBoost, là sự kết hợp giữa bộ tăng áp với hệ thống phun nhiên liệu trực tiếp và nhiều công nghệ khác. Hãng xe đã bán được hơn 600 ngàn chiếc xe tại thị trường này với động cơ tăng áp nhỏ dưới cái tên EcoBoost. Hơn 400 ngàn xe trong số đó là F-150.
Động cơ nhỏ trong xe lớn
Một kinh nghiệm dành cho bạn khi mua sắm là đừng vội tin vào thông số đánh giá của EPA mà các nhà sản xuất xe hơi đưa ra. Những thử nghiệm cho thấy con số thực tế không chính xác như vậy.
Vậy tại sao chỉ số tiết kiệm nhiên liệu của động cơ tăng áp trong thực tế lại không đẹp đẽ như theo đánh giá của EPA?
Hệ thống tăng áp, thường gắn vào trong hoặc gần ống xả, hoạt động dựa trên luồng khí thải ra khi động cơ hoạt động để làm quay một tua bin nhỏ với tốc độ rất cao. Các tua-bin làm chạy một máy nén hỗn hợp không khí và nhiên liệu và bơm thêm vào trong xy-lanh, điều này cho phép động cơ nhỏ hơn và vẫn cung cấp được nhiều năng lượng hơn.
Nhưng khi tăng áp hoạt động, khả năng tiết kiệm nhiên liệu suy giảm, đôi khi khá rõ rệt.
Ngoài ra, một số hãng xe sử dụng một tiểu xảo với hệ thống đánh giá dặm/gallon của EPA bằng cách tận dụng thủ tục kiểm tra của cơ quan này. Một số xe được hiệu chỉnh để cung cấp con số tiết kiệm cao nhất dựa trên thủ tục kiểm tra của EPA mà không hề phù hợp với điều kiện lái xe thực tế. Với thử nghiệm trên đường cao tốc của EPA, xe sẽ chạy trong khoảng 12 phút với tốc độ tối đa là 97 km/h (60 dặm/h) và tốc độ trung bình là 78 km/h (48.3 dặm/h). Tốc độ thấp như vậy sẽ tạo nên kết quả dặm/gallon khá cao cho động cơ tăng áp.
Chưa kể đến lí do động cơ nhỏ trong xe lớn, chẳng hạn như động cơ tăng áp 4 xy-lanh, dung tích 2.0 lít trên mẫu xe Ford Explorer có trọng lượng khoảng 2 tấn, thường không có khả năng tăng tốc nhanh chóng như người điều khiển hằng mong muốn. Người lái càng cố đạp ga thật mạnh, sử dụng tăng áp càng thường xuyên thì càng làm sụt giảm khả năng tiết kiệm nhiên liệu.
Tuy nhiên, các hãng xe có thể giúp cải thiện tình trạng này với một chiến dịch hướng dẫn lái xe sử dụng đôi chân nhẹ nhàng hơn nhưng đến nay, không có hãng nào tiến hành chiến dịch như vậy. Ford, GM, Chrysler, Huyndai, VW, BMW, Mercedes-Benz và nhiều hãng khác đang cung cấp một động cơ tăng áp bốn xy-lanh trong những mẫu xe cỡ trung thay thế cho động cơ V-6.
Một số hãng xe nói rằng tua-bin tăng áp của họ cung cấp khả năng khả năng tăng tốc nhanh chóng, lại tiết kiệm xăng, nhưng thực tế cần được xem xét.
Hệ thống tăng áp vẫn sẽ phát triển rộng rãi bởi các hãng xe phải giảm kích thước động cơ xăng để đáp ứng tiêu chuẩn an toàn môi trường đang dần thắt chặt. Ước tính, số xe tích hợp động cơ tăng áp sẽ chiếm 25% tổng số xe mới tại thị trường Bắc Mỹ vào năm 2017, theo dự đoán của LMC Automotive. Nhưng hạn chế của tăng áp như tiết kiệm nhiên liệu để lại rất nhiều cơ hội cho động cơ diesel, hybrid và động cơ điện trong những năm tới.
Ấn tượng từ một số quảng cáo của Ford Motor Co. cho thấy hãng xe đang mong muốn phát huy tiềm năng tiết kiệm nhiên liệu của động cơ tăng áp EcoBoost. Bản thân cái tên động cơ đã ngụ ý rằng một tua-bin tăng áp kết hợp giữa tiết kiệm nhiên liệu (Eco) và hiệu suất (Boost).
Với Chevrolet, một biểu ngữ lớn trên trang web gần đây đã giới thiệu về mẫu xe Cruze Eco với động cơ tăng áp 1.4 lít có chỉ số tiêu thụ nhiên liệu “42 dặm/gallon và chẳng phải hi sinh niềm vui thích” cho thấy chiếc xe vẫn có thể đảm bảo tính tiết kiệm ngay cả khi người lái sử dụng tăng áp thường xuyên.
Con số thực tế
Bất chấp chiến dịch marketing cho khả năng tiết kiệm của động cơ tăng áp, con số thực tế lại phản ánh điều ngược lại.
Ví dụ mẫu xe Dodge Dart với động cơ tăng áp 1.4 lít đạt thông số 39 dặm/gallon trên đường cao tốc theo đánh giá của EPA. Nhưng trong thử nghiệm thực tế gần đây của tạp chí Car and Driver, Dart đạt điểm thấp hơn 39 dặm/gallon bởi biên tập viên gắn một đồng hồ đo nhiên liệu vào xe để lấy kết quả chính xác về khả năng tiết kiệm. Theo tạp chí này, tại tốc độ 120 km/h trên đường cao tốc và với điều hòa không khí đang bật, máy tính trên xe cho thấy chỉ số tiêu hao trung bình là 33 dặm/gallon. Để đạt được con số xấp xỉ 40 dặm/gallon sẽ cần tới sự kiên nhẫn và tốc độ chậm hơn khá nhiều.
“Khi nhắc đến tăng áp, chúng ta thường nghĩ ngay đến hiệu suất, nhưng khi bạn lái xe càng nhanh, khả năng tiết kiệm nhiên liệu càng kém” – Mike Omotoso, quản lý cấp cao về dự báo hệ thống truyền lực của LMC Automotive cho biết.
Consumer Reports gần đây cũng tiến hành thử nghiệm với 11 mẫu xe tăng áp từ 7 hãng khác nhau để kiểm tra khả năng tiết kiệm nhiên liệu. Kết quả với lộ trình kết hợp giữa đường trong thành phố và đường cao tốc cho thấy tất cả các xe đều đạt chỉ số thấp hơn vài dặm cho mỗi gallon so với ước tính của EPA.
Ngoài ra, xét trên khía cạnh kinh tế, người tiêu dùng thường phải trả thêm ít nhất 1,000 USD cho động cơ tăng áp mà trong nhiều trường hợp, sau khi tính toán, lại không tiết kiệm nhiên liệu bằng động cơ thông thường.
Hãng xe Honda đã lặng lẽ tháo bỏ động cơ tăng áp 4 xy-lanh, dung tích 2.4 lít trên mẫu xe Acura RDX 2013 và thay thế bằng một động cơ không tăng áp lớn hơn để có thể tiết kiệm nhiên liệu tốt hơn. Động cơ tăng áp, theo đánh giá của EPA đạt mức tiêu hao 19 dặm đường thành thị/ 24 dặm đường cao tốc/ 21 dặm đường kết hợp cho mỗi gallon nhiên liệu đã được thay thế bằng động cơ V-6 dung tích 3.5 lít với mức tiêu hao 20 dặm đường thành thị/ 28 dặm đường cao tốc/ 23 dặm đường kết hợp.
Các biên tập viên của trang web pickuptrucks.com đã đặt hai chiếc xe Ford F-150s vào một thử nghiệm sức kéo, một chiếc sử dụng động cơ V-6 tăng áp kép, chiếc còn lại sử dụng động cơ V-8 dung tích 5.0 lít. Phần thắng trong cuộc thi tiết kiệm nhiên liệu thuộc về động cơ lớn hơn, 9.4 dặm/gallon cho động cơ V-8 so với 7.2 dặm/gallon với động cơ V-6 EcoBoost.
Tuy nhiên, phát ngôn viên của hãng Ford cho biết khách hàng hoàn toàn hài lòng với hệ thống tăng áp của mẫu xe bán tải F-150. Tiết kiệm nhiên liệu là tiêu chí xem xét hàng đầu của khách hàng khi lựa chọn động cơ EcoBoost. Dữ liệu cho thấy, F-150 dẫn đầu trong danh sách những mẫu xe bán tải hạng nhẹ khiến khách hàng hài lòng về tính kinh tế.
Ford đã rất tích cực với hệ thống tăng áp. Khoảng 80% đại lý xe ở Bắc Mỹ có sẵn tùy chọn động cơ EcoBoost, là sự kết hợp giữa bộ tăng áp với hệ thống phun nhiên liệu trực tiếp và nhiều công nghệ khác. Hãng xe đã bán được hơn 600 ngàn chiếc xe tại thị trường này với động cơ tăng áp nhỏ dưới cái tên EcoBoost. Hơn 400 ngàn xe trong số đó là F-150.
Động cơ nhỏ trong xe lớn
Một kinh nghiệm dành cho bạn khi mua sắm là đừng vội tin vào thông số đánh giá của EPA mà các nhà sản xuất xe hơi đưa ra. Những thử nghiệm cho thấy con số thực tế không chính xác như vậy.
Vậy tại sao chỉ số tiết kiệm nhiên liệu của động cơ tăng áp trong thực tế lại không đẹp đẽ như theo đánh giá của EPA?
Hệ thống tăng áp, thường gắn vào trong hoặc gần ống xả, hoạt động dựa trên luồng khí thải ra khi động cơ hoạt động để làm quay một tua bin nhỏ với tốc độ rất cao. Các tua-bin làm chạy một máy nén hỗn hợp không khí và nhiên liệu và bơm thêm vào trong xy-lanh, điều này cho phép động cơ nhỏ hơn và vẫn cung cấp được nhiều năng lượng hơn.
Nhưng khi tăng áp hoạt động, khả năng tiết kiệm nhiên liệu suy giảm, đôi khi khá rõ rệt.
Ngoài ra, một số hãng xe sử dụng một tiểu xảo với hệ thống đánh giá dặm/gallon của EPA bằng cách tận dụng thủ tục kiểm tra của cơ quan này. Một số xe được hiệu chỉnh để cung cấp con số tiết kiệm cao nhất dựa trên thủ tục kiểm tra của EPA mà không hề phù hợp với điều kiện lái xe thực tế. Với thử nghiệm trên đường cao tốc của EPA, xe sẽ chạy trong khoảng 12 phút với tốc độ tối đa là 97 km/h (60 dặm/h) và tốc độ trung bình là 78 km/h (48.3 dặm/h). Tốc độ thấp như vậy sẽ tạo nên kết quả dặm/gallon khá cao cho động cơ tăng áp.
Chưa kể đến lí do động cơ nhỏ trong xe lớn, chẳng hạn như động cơ tăng áp 4 xy-lanh, dung tích 2.0 lít trên mẫu xe Ford Explorer có trọng lượng khoảng 2 tấn, thường không có khả năng tăng tốc nhanh chóng như người điều khiển hằng mong muốn. Người lái càng cố đạp ga thật mạnh, sử dụng tăng áp càng thường xuyên thì càng làm sụt giảm khả năng tiết kiệm nhiên liệu.
Tuy nhiên, các hãng xe có thể giúp cải thiện tình trạng này với một chiến dịch hướng dẫn lái xe sử dụng đôi chân nhẹ nhàng hơn nhưng đến nay, không có hãng nào tiến hành chiến dịch như vậy. Ford, GM, Chrysler, Huyndai, VW, BMW, Mercedes-Benz và nhiều hãng khác đang cung cấp một động cơ tăng áp bốn xy-lanh trong những mẫu xe cỡ trung thay thế cho động cơ V-6.
10 môtô lý tưởng dành cho người thấp bé
Trên thị trường hiện nay, có không ít những mẫu xe được trang bị yên thấp để phù hợp với những người không được trời ưu ái chiều cao lý tưởng. Yên thấp mang đến cho người lái cảm giác an tâm vì họ có thể chống chân thật vững vàng.
Những người không sở hữu chiều cao lý tưởng hãy yên tâm vì trên thị trường vẫn có không ít mẫu môtô phù hợp với các bạn.
Phần lớn những mẫu môtô dành cho người mới học lái đều đi kèm yên xe thấp. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là những mẫu xe được trang bị động cơ có dung tích trên 250 cc nằm bên ngoài tầm với của người thấp bé.
Dưới đây là danh sách 10 mẫu môtô lý tưởng dành cho những tay lái "nhỏ con".
10. Honda CTX700
Mang trên mình thiết kế khá kỳ quái và không mấy đẹp mắt nhưng Honda CTX700 lại được trang bị yên xe khá thấp. Đó là lý do vì sao hãng Honda nhấn mạnh vào ưu điểm thu hút đối tượng khách hàng đa dạng của CTX700, kể cả người thấp bé.
Với yên chỉ cao 718 mm, Honda CTX700 quả là lựa chọn lý tưởng cho những ai thiệt thòi về chiều cao. Thêm vào đó là bàn đặt chân hướng về phía trước, tay lái ngả ra đằng sau cho phép người lái ngồi thoải mái trên những quãng đường dài.
9. Kawasaki Ninja 300
Có thể nói, Kawasaki Ninja 300 là một bước tiến hóa của "người anh em" 250 phân khối. Cũng từ đây, những ai không thích dòng xe 250 phân khối nhưng lại chưa dám thử môtô cỡ trung có thêm lựa chọn mới.
Không dừng ở đó, Kawasaki Ninja 300 còn có lợi thế về chiều cao yên. Kawasaki Ninja 300 được trang bị yên chỉ cao 784 mm, một con số khá khiêm tốn trong dòng xe thể thao. Yên thấp, xe nhẹ và công suất động cơ vừa phải biến Kawasaki Ninja 300 thành lựa chọn lý tưởng cho những người mới học lái.
8. Suzuki SFV650
Tương tự Kawasaki Ninja 300, Suzuki SFV650 cũng sở hữu yên cao 784 mm. Đây là mẫu xe phù hợp cho những ai mới chuyển từ dòng phân khối nhỏ lên.
Khối động cơ V-Twin, dung tích 645 cc của Suzuki SFV650 cũng được giới phóng viên thử xe đánh giá khá cao. Động cơ cho sức mạnh vừa đủ để người mới lái xe cỡ trung và có kinh nghiệm tận hưởng những phút giây tự do.
7. Zero XU
Nếu nghĩ xe điện không thân thiện với người thấp bé, bạn phải xem lại quan điểm của mình. Chính Zero XU đã chứng minh điều ngược lại. XU được trang bị yên chỉ cao 739 mm, thấp nhất trong dòng xe đường phố của Zero.
Đối với những người thường xuyên di chuyển trên quãng đường ngắn hoặc lòng lòng trong thành phố ở phạm vi dưới 64 km, Zero XU là mẫu xe đáng mua. Tuyệt vời hơn, Zero XU không đòi hỏi kỹ thuật lên/xuống số ở bạn. Chỉ cần lên xe, khởi động và phóng đi.
6. Star V Star 1300 Deluxe
"Nhỏ con" không có nghĩa là bạn chẳng thể trèo lên những chiếc xe touring. Vẫn có Star V Star 1300 Deluxe đang chờ đợi bạn.
Yên xe của Star V Star 1300 Deluxe chỉ cao đúng 690 mm, cho phép người lái chống chân vững hơn bất kỳ mẫu xe touring nào khác. Bên cạnh đó là những phụ kiện khá đầy đủ như dàn ốp theo phong cách cánh dơi, hộp đựng đồ rắn chắc và trùng màu với thân xe, hệ thống GPS, giải trí...
5. Triumph America
Trong dòng sản phẩm mang kiểu dáng cổ điển của Triumph, chắc hẳn mọi người đều để ý đến biểu tượng Bonneville với bề dày lịch sử. Thế nhưng, với những người thấp bé, Triumph America mới là sản phẩm nên để mắt đến.
Yên của Triumph America chỉ nằm cách 688 mm so với mặt đất. Tương tự Bonneville, Triumph America cũng được trang bị động cơ xi-lanh đôi song song, dung tích 865 cc. Thêm vào đó, Triumph America còn đi kèm bàn đặt chân hướng về phía trước nhằm mang đến cảm giác thoải mái cho người lái.
4. Harley-Davidson Fat Boy Low
Fat Boy Low là mẫu xe sở hữu yên thấp nhất trong dòng Harley-Davidson hiện nay. Yên của Harley-Davidson Fat Boy Low chỉ cao 673 mm.
Ẩn trong kiểu dáng cổ điển của Harley-Davidson Fat Boy Low là những công nghệ hiện đại. Xe được trang bị động cơ Twin Cam 103 và hộp số 6 cấp.
3. BMW G650
Nhìn chung, tìm một mẫu xe có khả năng off-road ưu việt cho người thấp bé là một nhiệm vụ khó. Dòng xe off-road thường được trang bị giảm xóc với khoảng chạy dài và gầm cao để vượt những địa hình xấu.
Thế nhưng, nhiệm vụ đó cũng không phải là bất khả thi. Trên thị trường vẫn có những mẫu xe off-road cho người thấp, điển hình là BMW G650 với yên cao 769 mm.
Toàn bộ phần còn lại của G650 đều đậm chất BMW, cụ thể là động cơ Thumper xi-lanh đơn nhưng cho công suất ấn tượng. Lốp và hệ thống giảm xóc không phải là loại quá chuyên dụng như nhiều xe off-road khác.
2. Honda Fury
Điểm thấp nhất trên yên của Honda Fury nằm ngang bằng với cả lốp sau. Chỉ cần nói thế cũng đủ biết Honda Fury sở hữu yên thấp thế nào. Chiều cao yên của Honda Fury dừng ở mức 683 mm.
Ngoài yên thấp, Honda Fury còn sở hữu kiểu dáng cruiser độc đáo. Thân hình trông có vẻ mỏng manh ấy lại chứa khối động cơ V-Twin, làm mát bằng chất lỏng, dung tích 1.312 cc.
1. Ducati Monster 696
Mẫu xe biểu tượng của Ducati được rất nhiều người tiêu dùng trên thế giới yêu thích. Một phần bắt nguồn từ yên xe chỉ cao 769 mm.
Sức hấp dẫn khác của Ducati Monster 696 bắt nguồn từ khối động cơ L-Twin, làm mát bằng gió, nghiêng 90 độ. Dù không bằng hai "người anh em" 796 hoặc 1100, Ducati Monster 696 vẫn đủ mạnh đối với những người không quá ghiền tốc độ.
Những người không sở hữu chiều cao lý tưởng hãy yên tâm vì trên thị trường vẫn có không ít mẫu môtô phù hợp với các bạn.
Phần lớn những mẫu môtô dành cho người mới học lái đều đi kèm yên xe thấp. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là những mẫu xe được trang bị động cơ có dung tích trên 250 cc nằm bên ngoài tầm với của người thấp bé.
Dưới đây là danh sách 10 mẫu môtô lý tưởng dành cho những tay lái "nhỏ con".
10. Honda CTX700
Mang trên mình thiết kế khá kỳ quái và không mấy đẹp mắt nhưng Honda CTX700 lại được trang bị yên xe khá thấp. Đó là lý do vì sao hãng Honda nhấn mạnh vào ưu điểm thu hút đối tượng khách hàng đa dạng của CTX700, kể cả người thấp bé.
Với yên chỉ cao 718 mm, Honda CTX700 quả là lựa chọn lý tưởng cho những ai thiệt thòi về chiều cao. Thêm vào đó là bàn đặt chân hướng về phía trước, tay lái ngả ra đằng sau cho phép người lái ngồi thoải mái trên những quãng đường dài.
9. Kawasaki Ninja 300
Có thể nói, Kawasaki Ninja 300 là một bước tiến hóa của "người anh em" 250 phân khối. Cũng từ đây, những ai không thích dòng xe 250 phân khối nhưng lại chưa dám thử môtô cỡ trung có thêm lựa chọn mới.
Không dừng ở đó, Kawasaki Ninja 300 còn có lợi thế về chiều cao yên. Kawasaki Ninja 300 được trang bị yên chỉ cao 784 mm, một con số khá khiêm tốn trong dòng xe thể thao. Yên thấp, xe nhẹ và công suất động cơ vừa phải biến Kawasaki Ninja 300 thành lựa chọn lý tưởng cho những người mới học lái.
8. Suzuki SFV650
Tương tự Kawasaki Ninja 300, Suzuki SFV650 cũng sở hữu yên cao 784 mm. Đây là mẫu xe phù hợp cho những ai mới chuyển từ dòng phân khối nhỏ lên.
Khối động cơ V-Twin, dung tích 645 cc của Suzuki SFV650 cũng được giới phóng viên thử xe đánh giá khá cao. Động cơ cho sức mạnh vừa đủ để người mới lái xe cỡ trung và có kinh nghiệm tận hưởng những phút giây tự do.
7. Zero XU
Nếu nghĩ xe điện không thân thiện với người thấp bé, bạn phải xem lại quan điểm của mình. Chính Zero XU đã chứng minh điều ngược lại. XU được trang bị yên chỉ cao 739 mm, thấp nhất trong dòng xe đường phố của Zero.
Đối với những người thường xuyên di chuyển trên quãng đường ngắn hoặc lòng lòng trong thành phố ở phạm vi dưới 64 km, Zero XU là mẫu xe đáng mua. Tuyệt vời hơn, Zero XU không đòi hỏi kỹ thuật lên/xuống số ở bạn. Chỉ cần lên xe, khởi động và phóng đi.
6. Star V Star 1300 Deluxe
"Nhỏ con" không có nghĩa là bạn chẳng thể trèo lên những chiếc xe touring. Vẫn có Star V Star 1300 Deluxe đang chờ đợi bạn.
Yên xe của Star V Star 1300 Deluxe chỉ cao đúng 690 mm, cho phép người lái chống chân vững hơn bất kỳ mẫu xe touring nào khác. Bên cạnh đó là những phụ kiện khá đầy đủ như dàn ốp theo phong cách cánh dơi, hộp đựng đồ rắn chắc và trùng màu với thân xe, hệ thống GPS, giải trí...
5. Triumph America
Trong dòng sản phẩm mang kiểu dáng cổ điển của Triumph, chắc hẳn mọi người đều để ý đến biểu tượng Bonneville với bề dày lịch sử. Thế nhưng, với những người thấp bé, Triumph America mới là sản phẩm nên để mắt đến.
Yên của Triumph America chỉ nằm cách 688 mm so với mặt đất. Tương tự Bonneville, Triumph America cũng được trang bị động cơ xi-lanh đôi song song, dung tích 865 cc. Thêm vào đó, Triumph America còn đi kèm bàn đặt chân hướng về phía trước nhằm mang đến cảm giác thoải mái cho người lái.
4. Harley-Davidson Fat Boy Low
Fat Boy Low là mẫu xe sở hữu yên thấp nhất trong dòng Harley-Davidson hiện nay. Yên của Harley-Davidson Fat Boy Low chỉ cao 673 mm.
Ẩn trong kiểu dáng cổ điển của Harley-Davidson Fat Boy Low là những công nghệ hiện đại. Xe được trang bị động cơ Twin Cam 103 và hộp số 6 cấp.
3. BMW G650
Nhìn chung, tìm một mẫu xe có khả năng off-road ưu việt cho người thấp bé là một nhiệm vụ khó. Dòng xe off-road thường được trang bị giảm xóc với khoảng chạy dài và gầm cao để vượt những địa hình xấu.
Thế nhưng, nhiệm vụ đó cũng không phải là bất khả thi. Trên thị trường vẫn có những mẫu xe off-road cho người thấp, điển hình là BMW G650 với yên cao 769 mm.
Toàn bộ phần còn lại của G650 đều đậm chất BMW, cụ thể là động cơ Thumper xi-lanh đơn nhưng cho công suất ấn tượng. Lốp và hệ thống giảm xóc không phải là loại quá chuyên dụng như nhiều xe off-road khác.
2. Honda Fury
Điểm thấp nhất trên yên của Honda Fury nằm ngang bằng với cả lốp sau. Chỉ cần nói thế cũng đủ biết Honda Fury sở hữu yên thấp thế nào. Chiều cao yên của Honda Fury dừng ở mức 683 mm.
Ngoài yên thấp, Honda Fury còn sở hữu kiểu dáng cruiser độc đáo. Thân hình trông có vẻ mỏng manh ấy lại chứa khối động cơ V-Twin, làm mát bằng chất lỏng, dung tích 1.312 cc.
1. Ducati Monster 696
Mẫu xe biểu tượng của Ducati được rất nhiều người tiêu dùng trên thế giới yêu thích. Một phần bắt nguồn từ yên xe chỉ cao 769 mm.
Sức hấp dẫn khác của Ducati Monster 696 bắt nguồn từ khối động cơ L-Twin, làm mát bằng gió, nghiêng 90 độ. Dù không bằng hai "người anh em" 796 hoặc 1100, Ducati Monster 696 vẫn đủ mạnh đối với những người không quá ghiền tốc độ.
Cadillac giới thiệu về động cơ mới
Richard Bartlett, kỹ sư trưởng phát triển động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lít mới của Cadillac, giải thích: “Bằng cách tạo ra một con đường rất ngắn từ hệ thống tăng áp đến bướm ga, máy nén có thể đưa không khí trực tiếp từ hộp đầu vào và gửi áp suất không khí lớn thông qua hệ thống làm mát gần như ngay lập tức. Điều này cho phép lái xe có cảm giác động cơ xe phản ứng tức thì với những thay dổi về vận tốc.”
Động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lit mới của Cadillac có công suất 420 mã lực.
Cadillac vừa công bố chi tiết mới về động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lít, động cơ sẽ được trang bị cho chiếc CTS Vsport và XTS Vsport phiên bản 2014.
Theo Worldcarfans, đây là động cơ twin-turbo đầu tiên của Cadillac, và các kỹ sư của hãng đã tập trung làm cho động cơ này tinh tế và mạnh mẽ hơn. Họ đã phát triển hệ thống tăng áp bằng cách thiết kế luồng không khí sử dụng ít ống trao đổi nhiệt hơn. Cadillac cho biết, điều này sẽ giúp giảm lưu lượng không khí và khối lượng định tuyến khoảng 60% so với thiết kế thông thường, ngoài ra, hệ thống mới có tính năng trao đổi nhiệt gắn ngay trên khung gầm của chiếc xe.
Theo thông tin được Cadillac công bố, động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lít mới có thể đạt công suất tối đa 410 mã lực và momen xoắn cực đại 500 Nm. Khi trang bị trên Cadillac CTS Vsport, động cơ này sẽ có công suất 420 mã lực và momen xoắn 583 Nm.
Cả hai mẫu xe được trang bị động cơ mới sẽ được bán ra từ mùa thu năm nay, trong đó mức giá của CTS Vsport là từ 59.995 Đô la Mỹ, trong khi chiếc XTS Vsport có giá bán từ 63.020 Đô la.
Động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lit mới của Cadillac có công suất 420 mã lực.
Cadillac vừa công bố chi tiết mới về động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lít, động cơ sẽ được trang bị cho chiếc CTS Vsport và XTS Vsport phiên bản 2014.
Theo Worldcarfans, đây là động cơ twin-turbo đầu tiên của Cadillac, và các kỹ sư của hãng đã tập trung làm cho động cơ này tinh tế và mạnh mẽ hơn. Họ đã phát triển hệ thống tăng áp bằng cách thiết kế luồng không khí sử dụng ít ống trao đổi nhiệt hơn. Cadillac cho biết, điều này sẽ giúp giảm lưu lượng không khí và khối lượng định tuyến khoảng 60% so với thiết kế thông thường, ngoài ra, hệ thống mới có tính năng trao đổi nhiệt gắn ngay trên khung gầm của chiếc xe.
Theo thông tin được Cadillac công bố, động cơ V6 Twin-Turbo 3.6 lít mới có thể đạt công suất tối đa 410 mã lực và momen xoắn cực đại 500 Nm. Khi trang bị trên Cadillac CTS Vsport, động cơ này sẽ có công suất 420 mã lực và momen xoắn 583 Nm.
Cả hai mẫu xe được trang bị động cơ mới sẽ được bán ra từ mùa thu năm nay, trong đó mức giá của CTS Vsport là từ 59.995 Đô la Mỹ, trong khi chiếc XTS Vsport có giá bán từ 63.020 Đô la.
Tẩy rửa vết gỉ trên xe ôtô bằng... Coca-Cola
Một trong những công dụng của Coca-Cola chính là rửa sạch những vết gỉ sét trên những chi tiết mạ của ôtô. Không chỉ chứa caffeine và đường, Coca-Cola còn có thành phần axít. Đây chính là thành phần giúp Coca-Cola trở thành một chất tẩy rửa vết gỉ hiệu quả, dễ mua và không tốn tiền.
Thành phần axít đã biến Coca-Cola thành một chất tẩy rửa vết gỉ hiệu quả, dễ mua và không hề tốn tiền.
Gần đây, những thông tin về tác dụng bất ngờ của Coca-Cola đã xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội Facebook. Những thông tin được chia sẻ có vẻ rất đời thường nhưng không phải ai cũng biết.
Coca-Cola từ lâu đã là loại nước ngọt có ga yêu thích của nhiều người trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thế nhưng, ít ai biết rằng, Coca-Cola có tác dụng tẩy rửa vết bẩn cực hiệu quả.
Để rửa sạch vết gỉ trên những chi tiết mạ của ôtô, bạn chỉ cần mua một chai Coca-Cola cỡ lớn và một miếng bọt biển. Sau đó, đổ Coca-Cola lên chỗ gỉ của những chi tiết mạ và chờ một lúc. Chà mạnh tay, bạn sẽ loại bỏ phần lớn những vết gỉ trên những chi tiết mạ của chiếc xế cưng.
Thành phần axít đã biến Coca-Cola thành một chất tẩy rửa vết gỉ hiệu quả, dễ mua và không hề tốn tiền.
Gần đây, những thông tin về tác dụng bất ngờ của Coca-Cola đã xuất hiện tràn lan trên mạng xã hội Facebook. Những thông tin được chia sẻ có vẻ rất đời thường nhưng không phải ai cũng biết.
Coca-Cola từ lâu đã là loại nước ngọt có ga yêu thích của nhiều người trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Thế nhưng, ít ai biết rằng, Coca-Cola có tác dụng tẩy rửa vết bẩn cực hiệu quả.
Để rửa sạch vết gỉ trên những chi tiết mạ của ôtô, bạn chỉ cần mua một chai Coca-Cola cỡ lớn và một miếng bọt biển. Sau đó, đổ Coca-Cola lên chỗ gỉ của những chi tiết mạ và chờ một lúc. Chà mạnh tay, bạn sẽ loại bỏ phần lớn những vết gỉ trên những chi tiết mạ của chiếc xế cưng.
Mẹo lái xe an toàn ở ban đêm
Không chủ quan với thị lực của bạn. Các cuộc kiểm tra thị lực phải được tiến hành một cách thường xuyên đối với các lái xe, ít nhất 3 năm một lần đối với người lái dưới 40 tuổi; ít nhất 2 năm một lần đối với người cầm lái tuổi từ 41-60. Con số tương ứng với các tài xế nhiều hơn 60 tuổi là 1 năm/lần.
Lái xe an toàn vào ban đêm phụ thuộc rất nhiều vào sự cảnh giác của tài xế đối với các tình huống bất ngờ xảy ra trên đường.
Không có chiếc xe tồi, chỉ có người lái thiếu kinh nghiệm mà thôi. Đặc biệt là khi lái xe vào ban đêm, không phải ai cũng đủ kinh nghiệm để bảo vệ sự an toàn của bản thân cũng như người khác. Nhìn chung, lái xe an toàn vào ban đêm phụ thuộc rất nhiều vào sự cảnh giác của tài xế đối với các tình huống bất ngờ xảy ra trên đường.
Nguy cơ của việc lái xe vào ban đêm
Theo khảo sát của một tổ chức an toàn phi chính phủ, tỉ lệ tử vong gây ra bởi các vụ tai nạn do lái xe vào ban đêm cao gấp 3 lần so với ban ngày. Điều này thực sự đáng lo ngại vì khi màn đêm buông xuống, số lượng tài xế tham gia giao thông đã giảm rất nhiều so với ban ngày.
Vấn đề then chốt dẫn đến tình trạng trên chính là tầm nhìn của người lái xe vào ban đêm. Hầu như 90% phản ứng đối với các tình huống phát sinh trên đường của tài xế là phụ thuộc vào tầm nhìn. Việc thiếu ánh sáng mặt trời không những khiến cảm nhận màu sắc và tầm nhìn xung quanh của người lái giảm mà còn kéo theo khả năng phán đoán tình huống cũng kém đi đáng kể.
Khi lái xe vào ban đêm, các tài xế phải căng mắt ra để cố gắng nhận dạng mọi vật thể trôi qua vùn vụt trước mui xe và hai bên. Điều này tạo một sức ép không nhỏ lên đôi mắt của họ.
Buổi đêm cũng cũng là lúc những gã lái xe say khướt và các loài động vật thả rông hoặc hoang dã xuất hiện trên đường nhiều hơn. Lái xe vào ban đêm giống như khi bạn chơi một trò chơi, các chướng ngại vật sẽ xuất hiện một cách đột ngột và liên tiếp để thử thách phản xạ cũng như độ tập trung của bạn.
Thật may mắn vì vẫn có rất nhiều biện pháp phòng ngừa hữu hiệu dành cho các tài xế mỗi khi phải lái xe vào ban đêm. Sau đây là một vài gợi ý.
Mẹo lái xe an toàn vào ban đêm
Bật đèn pha sớm trước khi hoàng hôn khoảng 1 giờ và thêm 1 giờ nữa sau khi đã bình minh để tăng tầm nhìn trong trường hợp lái xe đường dài xuyên đêm đồng thời không có sự hỗ trợ của đèn đường.
Hãy chắc chắn hai bóng đèn pha được chiếu thẳng hàng với nhau. Bóng đèn pha bị lệch có thể giảm tầm chiếu sáng của cụm đèn và không tạo được vùng sáng đảm bảo an toàn mỗi khi có xe ngược chiều tiến đến.
Thường xuyên kiểm tra các loại đèn chiếu sáng và đặc biệt là đèn xi-nhan, báo phanh, để đảm bảo chúng hoạt động bình thường và phát huy tác dụng vào ban đêm.
Lau sạch các vết bám bẩn ở mặt trong kính chắn gió để giảm thiểu hiện tượng lóa sáng khi có ánh đèn chiếu từ hướng đối diện.
Chuyển sang chế độ chiếu gần (cos) khi đi trong điều kiện sương mù. Bật đèn sương mù đối với các xe được trang bị.
Tuyệt đối không uống rượu bia khi lái xe. Quy định này đã được áp dụng ở tất cả các quốc gia và gần như trở thành điều hiển nhiên. Ngay cả khi bạn không phải là một kẻ thường xuyên say xỉn thì cũng không nên uống vì một cốc bia cũng có thể tăng khả năng buồn ngủ lúc lái xe.
Dù ban ngày hay ban đêm, uống rượu bia trước và trong khi lái xe đều bị cấm.
Tăng mức độ cảnh giác khi lái xe vào cuối tuần. Đây là thời điểm thích hợp cho các buổi liên hoan và tiệc tùng, nơi luôn luôn xuất hiện đồ uống có cồn.
Kiểm soát chiếc xe trong tầm chiếu sáng của đèn pha. Nói cách khác, hãy giảm tốc độ nếu có thể để kịp thời xử lý các tình huống bất ngờ.
Giữ khoảng cách với xe chạy phía trước xa hơn so với ban ngày. Khoảng cách giữa chiếc xe của bạn và phương tiện phía trước sẽ trở nên khó định lượng hơn vào ban đêm, vì vậy lái chậm thôi là chưa đủ.
Chuyển chế độ đèn pha sang chiếu gần (cos) nếu bạn đi sau một chiếc xe khác để ánh sáng từ xe bạn không làm chói mắt người lái xe phía trước qua gương chiếu hậu. Khi bị chói, họ gần như không thể quan sát được gì ở phía sau.
Để tránh bị chói mắt bởi các xe ngược chiều, khi lái xe bạn nên tập trung ánh mắt hướng về phía bên phải của cung đường mình đi.
Chú ý các biển cảnh báo gặp trên đường. Hãy chủ động nháy đèn và quan sát tín hiệu nháy đèn của các xe ngược chiều khi sắp vào các cung đường cua góc khuất hoặc mấp mô như đường đồi, núi.
Tuyệt đối không chủ quan hoặc cố gắng lái xe khi có hiện tượng mỏi mắt. Hãy tạm dừng xe lại và thực hiện vài động tác thể dục. Nếu vẫn không giải quyết được, hãy tìm một nơi dừng an toàn và ngủ một giấc ngắn để mắt được nghỉ ngơi.
Không hút thuốc khi lái xe vì khói thuốc có thể che mất tầm nhìn của người lái. Nên dừng xe lại để hút thuốc nếu tài xế thực sự muốn.
Chú ý những loài động vật sống bầy đàn khi chúng băng qua đường. Hãy giảm tốc độ và chú ý quan sát, bởi có thể còn nhiều con ẩn nấp và chuẩn bị lao ra đường ngay sau khi có một con băng qua trước mũi xe bạn.
Nếu xe của bạn gặp sự cố, hãy cố gắng đẩy chiếc xe càng xa khỏi lòng đường càng tốt. Bật đèn báo sự cố khẩn cấp của xe và đèn chiếu sáng trong xe đồng thời ở yên trong đó cho đến khi cứu hộ tới.
Đừng chủ quan khi bạn có khả năng quan sát tốt vào ban ngày vì thị lực của bạn vẫn có thể sẽ gặp vấn đề vào ban đêm. Khi đó, bạn nên chuẩn bị sẵn một cặp kính có phủ lớp chống lóa để sử dụng vào ban đêm.
Lái xe an toàn vào ban đêm phụ thuộc rất nhiều vào sự cảnh giác của tài xế đối với các tình huống bất ngờ xảy ra trên đường.
Không có chiếc xe tồi, chỉ có người lái thiếu kinh nghiệm mà thôi. Đặc biệt là khi lái xe vào ban đêm, không phải ai cũng đủ kinh nghiệm để bảo vệ sự an toàn của bản thân cũng như người khác. Nhìn chung, lái xe an toàn vào ban đêm phụ thuộc rất nhiều vào sự cảnh giác của tài xế đối với các tình huống bất ngờ xảy ra trên đường.
Nguy cơ của việc lái xe vào ban đêm
Theo khảo sát của một tổ chức an toàn phi chính phủ, tỉ lệ tử vong gây ra bởi các vụ tai nạn do lái xe vào ban đêm cao gấp 3 lần so với ban ngày. Điều này thực sự đáng lo ngại vì khi màn đêm buông xuống, số lượng tài xế tham gia giao thông đã giảm rất nhiều so với ban ngày.
Vấn đề then chốt dẫn đến tình trạng trên chính là tầm nhìn của người lái xe vào ban đêm. Hầu như 90% phản ứng đối với các tình huống phát sinh trên đường của tài xế là phụ thuộc vào tầm nhìn. Việc thiếu ánh sáng mặt trời không những khiến cảm nhận màu sắc và tầm nhìn xung quanh của người lái giảm mà còn kéo theo khả năng phán đoán tình huống cũng kém đi đáng kể.
Khi lái xe vào ban đêm, các tài xế phải căng mắt ra để cố gắng nhận dạng mọi vật thể trôi qua vùn vụt trước mui xe và hai bên. Điều này tạo một sức ép không nhỏ lên đôi mắt của họ.
Buổi đêm cũng cũng là lúc những gã lái xe say khướt và các loài động vật thả rông hoặc hoang dã xuất hiện trên đường nhiều hơn. Lái xe vào ban đêm giống như khi bạn chơi một trò chơi, các chướng ngại vật sẽ xuất hiện một cách đột ngột và liên tiếp để thử thách phản xạ cũng như độ tập trung của bạn.
Thật may mắn vì vẫn có rất nhiều biện pháp phòng ngừa hữu hiệu dành cho các tài xế mỗi khi phải lái xe vào ban đêm. Sau đây là một vài gợi ý.
Mẹo lái xe an toàn vào ban đêm
Bật đèn pha sớm trước khi hoàng hôn khoảng 1 giờ và thêm 1 giờ nữa sau khi đã bình minh để tăng tầm nhìn trong trường hợp lái xe đường dài xuyên đêm đồng thời không có sự hỗ trợ của đèn đường.
Hãy chắc chắn hai bóng đèn pha được chiếu thẳng hàng với nhau. Bóng đèn pha bị lệch có thể giảm tầm chiếu sáng của cụm đèn và không tạo được vùng sáng đảm bảo an toàn mỗi khi có xe ngược chiều tiến đến.
Thường xuyên kiểm tra các loại đèn chiếu sáng và đặc biệt là đèn xi-nhan, báo phanh, để đảm bảo chúng hoạt động bình thường và phát huy tác dụng vào ban đêm.
Lau sạch các vết bám bẩn ở mặt trong kính chắn gió để giảm thiểu hiện tượng lóa sáng khi có ánh đèn chiếu từ hướng đối diện.
Chuyển sang chế độ chiếu gần (cos) khi đi trong điều kiện sương mù. Bật đèn sương mù đối với các xe được trang bị.
Tuyệt đối không uống rượu bia khi lái xe. Quy định này đã được áp dụng ở tất cả các quốc gia và gần như trở thành điều hiển nhiên. Ngay cả khi bạn không phải là một kẻ thường xuyên say xỉn thì cũng không nên uống vì một cốc bia cũng có thể tăng khả năng buồn ngủ lúc lái xe.
Dù ban ngày hay ban đêm, uống rượu bia trước và trong khi lái xe đều bị cấm.
Tăng mức độ cảnh giác khi lái xe vào cuối tuần. Đây là thời điểm thích hợp cho các buổi liên hoan và tiệc tùng, nơi luôn luôn xuất hiện đồ uống có cồn.
Kiểm soát chiếc xe trong tầm chiếu sáng của đèn pha. Nói cách khác, hãy giảm tốc độ nếu có thể để kịp thời xử lý các tình huống bất ngờ.
Giữ khoảng cách với xe chạy phía trước xa hơn so với ban ngày. Khoảng cách giữa chiếc xe của bạn và phương tiện phía trước sẽ trở nên khó định lượng hơn vào ban đêm, vì vậy lái chậm thôi là chưa đủ.
Chuyển chế độ đèn pha sang chiếu gần (cos) nếu bạn đi sau một chiếc xe khác để ánh sáng từ xe bạn không làm chói mắt người lái xe phía trước qua gương chiếu hậu. Khi bị chói, họ gần như không thể quan sát được gì ở phía sau.
Để tránh bị chói mắt bởi các xe ngược chiều, khi lái xe bạn nên tập trung ánh mắt hướng về phía bên phải của cung đường mình đi.
Chú ý các biển cảnh báo gặp trên đường. Hãy chủ động nháy đèn và quan sát tín hiệu nháy đèn của các xe ngược chiều khi sắp vào các cung đường cua góc khuất hoặc mấp mô như đường đồi, núi.
Tuyệt đối không chủ quan hoặc cố gắng lái xe khi có hiện tượng mỏi mắt. Hãy tạm dừng xe lại và thực hiện vài động tác thể dục. Nếu vẫn không giải quyết được, hãy tìm một nơi dừng an toàn và ngủ một giấc ngắn để mắt được nghỉ ngơi.
Không hút thuốc khi lái xe vì khói thuốc có thể che mất tầm nhìn của người lái. Nên dừng xe lại để hút thuốc nếu tài xế thực sự muốn.
Chú ý những loài động vật sống bầy đàn khi chúng băng qua đường. Hãy giảm tốc độ và chú ý quan sát, bởi có thể còn nhiều con ẩn nấp và chuẩn bị lao ra đường ngay sau khi có một con băng qua trước mũi xe bạn.
Nếu xe của bạn gặp sự cố, hãy cố gắng đẩy chiếc xe càng xa khỏi lòng đường càng tốt. Bật đèn báo sự cố khẩn cấp của xe và đèn chiếu sáng trong xe đồng thời ở yên trong đó cho đến khi cứu hộ tới.
Đừng chủ quan khi bạn có khả năng quan sát tốt vào ban ngày vì thị lực của bạn vẫn có thể sẽ gặp vấn đề vào ban đêm. Khi đó, bạn nên chuẩn bị sẵn một cặp kính có phủ lớp chống lóa để sử dụng vào ban đêm.
Lốp xe run-flat: Nên dùng hay là không?
Lốp xe run-flat có thể có những ưu điểm nhất định, song, những vụ việc không hay như trên đang dần khiến tương lai của chúng trở nên mờ mịt. Những chiếc xe của BMW và Mini mặc dù được trang bị lốp run-flat tiêu chuẩn nhưng điều đó lại khiến khách hàng của họ không vui, đặc biệt là những người trung thành.
Nếu bạn chẳng lo ngại về các nguy cơ hoặc không thoải mái lắm với việc tự thay lốp dự phòng thì có thể trang bị lốp run-flat cho xe của mình.
Nếu thường xuyên phải di chuyển bằng xe hơi, chắc hẳn bạn đã ít nhất một lần trải qua tình huống bị bỏ lại bên đường với chiếc lốp thủng cần được thay thế. Dù tự thay lốp, gọi cứu hộ hoặc thợ sửa chữa, bạn đều phải mất khá nhiều thời gian trước khi tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Đó chính là lý do lốp run-flat ra đời. Về cơ bản, đây là loại lốp cho phép xe đi thêm một quãng đường đủ xa trước khi bạn tìm thấy một garage hoặc thậm chí về nhà an toàn.
Lốp run-flat là gì?
Mặc dù kỹ năng tự thay lốp khá quan trọng nhưng ý tưởng về lốp run-flat nghe có vẻ rất hữu ích. Khi không phải mang theo lốp dự phòng, xe của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn và tiết kiệm thêm chút nhiên liệu.
Trên thị trường hiện nay có hai loại lốp run-flat chính, bao gồm chịu lực trực tiếp và gắn lớp hỗ trợ. Loại chịu lực trực tiếp có lớp cao su cứng và đặc hơn để gia cố, nhờ đó tạm thời chịu được sức nặng của chiếc xe trong trường hợp áp suất lốp bị giảm thấp hơn so với quy định. Nếu dùng loại chịu lực trực tiếp, bạn phải trang bị thêm hệ thống giám sát áp suất lốp cho xe nếu chưa có sẵn.
Loại gắn lớp hỗ trợ chịu lực không có lớp cao su đặc và cứng. Thay vào đó, vành được gắn thêm một lớp chịu lực vào mặt trong để chịu tải cho xe thay lốp trong trường hợp lốp bị thủng hoặc xì hơi.
Lốp run-flat loại chịu lực trực tiếp...
... và loại gắn thêm lớp hỗ trợ chịu lực.
Một số tài liệu có đề cập đến loại lốp tự liền với khả năng tự làm kín những vết thủng nhỏ do đinh, vít hoặc các vật nhọn đâm vào. Quá trình làm liền của lốp dựa trên nguyên lí quay tròn khi di chuyển. Một hợp chất keo được bơm vào mặt trong lốp thông qua van, di chuyển suốt mặt trong của lốp và tự bịt kín các lỗ thủng nhỏ. Tuy vậy, bản chất của lốp tự liền không mang đặc trưng của dòng run-flat.
Nhược điểm của lốp run-flat
Mặc dù lốp run-flat chính thức được đưa vào sử dụng từ năm 1994 nhưng có nhiều lí do đã cản trở chúng trở nên phổ biến. Ông Sheri Hermann, điều phối viên thông tin từ hãng lốp Continental, cho biết: "Lốp run-flat rất tiện lợi cho người sử dụng nhưng lại đắt hơn và di chuyển không êm ái bằng loại lốp thông thường".
Có thể nói, giá thành là một trong những bất lợi lớn nhất của lốp run-flat. So với loại thông thường, một chiếc lốp run-flat có giá đắt hơn khoảng 1/3.
Việc giảm bớt tải trọng cho xe vì không phải mang lốp dự phòng của nghe có vẻ là một lợi thế của lốp run-flat. Tuy nhiên, lốp run-flat có vỏ dày và nặng hơn loại thông thường nên trên thực tế, tải trọng của xe cũng không được cải thiện nhiều.
Hơn nữa, lốp run-flat với đặc điểm là cứng và đặc hơn loại thông thường sẽ khiến xe của bạn bớt êm ái hơn khi đi trên đường. Trong điều kiện nhiệt độ thấp, khả năng bám đường của lốp run-flat càng trở nên tồi tệ.
Cuối cùng, quá trình sửa lốp run-flat hoàn toàn không dễ dàng. Phải mất một khoảng thời gian khá dài và dùng các dụng cụ chuyên biệt để tách lốp xe khỏi vành. Sau đó, người thợ phải kiểm tra kỹ lưỡng để xem có sửa được hay không.
Trong trường hợp xấu nhất là không sửa được thì bạn phải mua một chiếc lốp mới vốn không phổ biến trên thị trường như loại thông thường. Trong khi đó, hầu hết các loại lốp thông thường có thể được vá một cách khá đơn giản và nhanh chóng với các dụng cụ mà bất cứ tiệm sửa xe nào cũng có.
Tuy vậy, lốp run-flat vẫn đang dần phát triển và trở thành tiêu chuẩn bắt buộc đối với một vài thị trường vì lí do tương đối dễ hiểu là đem đến cho bạn một tâm lí yên tâm và thoải mái khi di chuyển. Không phải dễ đi hơn lốp thường mà lốp run-flat giúp bạn có thể tiếp tục lái xe ngay cả khi lốp bị xì hơi.
Lí do các nhà sản xuất xe hơi sử dụng lốp run-flat
Điều phối viên thông tin Monty Robert đến từ hãng BMW cho biết, lốp xe run-flat đã trở thành trang bị tiêu chuẩn cho hầu hết các mẫu xe của họ, ngoại trừ dòng M. Đặc biệt, lốp run-flat với những ưu điểm được cải tiến riêng dành riêng cho "chiến dịch hỗ trợ dòng EfficientDynamics của BMW bằng cách loại bỏ lốp dự phòng, các dụng cụ cho việc thay lốp để xe cân bằng, linh hoạt và tiết kiệm nhiên liệu hơn”.
Sự khác biệt giữa lốp thông thường và lốp run-flat với lớp gia cố bằng cao su cứng chịu lực cạnh bên khi bị xì hơi.
Khi được hỏi về quan điểm của mình với lốp run-flat, ông Robert tiết lộ: “Loại lốp run-flat do chúng tôi tự thiết kế có cạnh lốp cứng hơn so với lốp thông thường. Tuy nhiên, tất cả những mẫu xe hiện tại của BMW đang sử dụng loại lốp này đều có cơ cấu treo được thiết kế đặc biệt để thích ứng với công nghệ lốp mới”.
Những phản hồi bất lợi từ người sử dụng
Mặc dù được chế tạo bằng loại cao su cứng hơn nhưng lốp run-flat có tuổi thọ còn kém hơn cả những loại lốp thông thường. Theo một diễn đàn xe hơi, những khách hàng của lốp run-flat phàn nàn họ không dùng được quá 20.000 km, kể cả đối với những chiếc lốp run-flat chính hãng. Điều này thậm chí đã nảy sinh một vụ kiện mà BMW và Bridgestone đã phải cùng nhau dàn xếp mới có thể giải quyết.
Hai hãng đã phải bồi thường hoàn toàn chi phí để thay lốp mới cho các khách hàng khi họ chưa sử dụng lốp run-flat quá 10.000 km. Trong khi đó, những người phải thay lốp khi mới đi được từ 10.000-30.000km sẽ nhận lại 50% chi phí hoặc ít hơn một chút. Ngay cả khi đạt tuổi thọ trung bình khoảng 20.000 km thì lốp run-flat vẫn chỉ bền bằng phân nửa so với các loại lốp thông thường.
Trong một vụ việc tương tự, Honda đã phải ngừng việc đặt hàng lốp run-flat để trang bị cho các mẫu xe của họ sau khi chật vật dàn xếp một vụ kiện tập thể vào năm ngoái. Những người chủ xe Acura RL và Honda Odyssey đã yêu cầu hãng Honda phải giải trình về việc những chiếc lốp xe của họ có tuổi thọ thấp một cách vô lý trong khi chi phí để thay thế chúng khá đắt đỏ so với lốp thông thường.
“Tương lai của lốp run-flat có trở nên sáng sủa hơn hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính sách hỗ trợ khách hàng của các nhà sản xuất xe hơi và các nhà cung cấp thiết bị", một ý kiến cho biết.
Nếu bạn chẳng lo ngại về những nguy cơ nêu trên hoặc không thoải mái lắm với vấn đề phải tự thay lốp dự phòng khi bị thủng lốp trên đường thì có thể trang bị lốp run-flat cho xe của mình. Tuy nhiên, hãy cân nhắc với khoản chi phí bỏ ra. Trong khi đó, nếu bạn chắc chắn nhược điểm nhiều hơn ưu điểm thì hãy cẩn thận với những chiếc xe được trang bị lốp run-flat tiêu chuẩn. Những chiếc xe như thế chỉ vận hành tốt nhất với lốp run-flat, việc thay thế bằng lốp thông thường sẽ khiến chúng hoạt động kém ổn định mà thôi.
Nếu bạn chẳng lo ngại về các nguy cơ hoặc không thoải mái lắm với việc tự thay lốp dự phòng thì có thể trang bị lốp run-flat cho xe của mình.
Nếu thường xuyên phải di chuyển bằng xe hơi, chắc hẳn bạn đã ít nhất một lần trải qua tình huống bị bỏ lại bên đường với chiếc lốp thủng cần được thay thế. Dù tự thay lốp, gọi cứu hộ hoặc thợ sửa chữa, bạn đều phải mất khá nhiều thời gian trước khi tiếp tục cuộc hành trình của mình.
Đó chính là lý do lốp run-flat ra đời. Về cơ bản, đây là loại lốp cho phép xe đi thêm một quãng đường đủ xa trước khi bạn tìm thấy một garage hoặc thậm chí về nhà an toàn.
Lốp run-flat là gì?
Mặc dù kỹ năng tự thay lốp khá quan trọng nhưng ý tưởng về lốp run-flat nghe có vẻ rất hữu ích. Khi không phải mang theo lốp dự phòng, xe của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn và tiết kiệm thêm chút nhiên liệu.
Trên thị trường hiện nay có hai loại lốp run-flat chính, bao gồm chịu lực trực tiếp và gắn lớp hỗ trợ. Loại chịu lực trực tiếp có lớp cao su cứng và đặc hơn để gia cố, nhờ đó tạm thời chịu được sức nặng của chiếc xe trong trường hợp áp suất lốp bị giảm thấp hơn so với quy định. Nếu dùng loại chịu lực trực tiếp, bạn phải trang bị thêm hệ thống giám sát áp suất lốp cho xe nếu chưa có sẵn.
Loại gắn lớp hỗ trợ chịu lực không có lớp cao su đặc và cứng. Thay vào đó, vành được gắn thêm một lớp chịu lực vào mặt trong để chịu tải cho xe thay lốp trong trường hợp lốp bị thủng hoặc xì hơi.
Lốp run-flat loại chịu lực trực tiếp...
... và loại gắn thêm lớp hỗ trợ chịu lực.
Một số tài liệu có đề cập đến loại lốp tự liền với khả năng tự làm kín những vết thủng nhỏ do đinh, vít hoặc các vật nhọn đâm vào. Quá trình làm liền của lốp dựa trên nguyên lí quay tròn khi di chuyển. Một hợp chất keo được bơm vào mặt trong lốp thông qua van, di chuyển suốt mặt trong của lốp và tự bịt kín các lỗ thủng nhỏ. Tuy vậy, bản chất của lốp tự liền không mang đặc trưng của dòng run-flat.
Nhược điểm của lốp run-flat
Mặc dù lốp run-flat chính thức được đưa vào sử dụng từ năm 1994 nhưng có nhiều lí do đã cản trở chúng trở nên phổ biến. Ông Sheri Hermann, điều phối viên thông tin từ hãng lốp Continental, cho biết: "Lốp run-flat rất tiện lợi cho người sử dụng nhưng lại đắt hơn và di chuyển không êm ái bằng loại lốp thông thường".
Có thể nói, giá thành là một trong những bất lợi lớn nhất của lốp run-flat. So với loại thông thường, một chiếc lốp run-flat có giá đắt hơn khoảng 1/3.
Việc giảm bớt tải trọng cho xe vì không phải mang lốp dự phòng của nghe có vẻ là một lợi thế của lốp run-flat. Tuy nhiên, lốp run-flat có vỏ dày và nặng hơn loại thông thường nên trên thực tế, tải trọng của xe cũng không được cải thiện nhiều.
Hơn nữa, lốp run-flat với đặc điểm là cứng và đặc hơn loại thông thường sẽ khiến xe của bạn bớt êm ái hơn khi đi trên đường. Trong điều kiện nhiệt độ thấp, khả năng bám đường của lốp run-flat càng trở nên tồi tệ.
Cuối cùng, quá trình sửa lốp run-flat hoàn toàn không dễ dàng. Phải mất một khoảng thời gian khá dài và dùng các dụng cụ chuyên biệt để tách lốp xe khỏi vành. Sau đó, người thợ phải kiểm tra kỹ lưỡng để xem có sửa được hay không.
Trong trường hợp xấu nhất là không sửa được thì bạn phải mua một chiếc lốp mới vốn không phổ biến trên thị trường như loại thông thường. Trong khi đó, hầu hết các loại lốp thông thường có thể được vá một cách khá đơn giản và nhanh chóng với các dụng cụ mà bất cứ tiệm sửa xe nào cũng có.
Tuy vậy, lốp run-flat vẫn đang dần phát triển và trở thành tiêu chuẩn bắt buộc đối với một vài thị trường vì lí do tương đối dễ hiểu là đem đến cho bạn một tâm lí yên tâm và thoải mái khi di chuyển. Không phải dễ đi hơn lốp thường mà lốp run-flat giúp bạn có thể tiếp tục lái xe ngay cả khi lốp bị xì hơi.
Lí do các nhà sản xuất xe hơi sử dụng lốp run-flat
Điều phối viên thông tin Monty Robert đến từ hãng BMW cho biết, lốp xe run-flat đã trở thành trang bị tiêu chuẩn cho hầu hết các mẫu xe của họ, ngoại trừ dòng M. Đặc biệt, lốp run-flat với những ưu điểm được cải tiến riêng dành riêng cho "chiến dịch hỗ trợ dòng EfficientDynamics của BMW bằng cách loại bỏ lốp dự phòng, các dụng cụ cho việc thay lốp để xe cân bằng, linh hoạt và tiết kiệm nhiên liệu hơn”.
Sự khác biệt giữa lốp thông thường và lốp run-flat với lớp gia cố bằng cao su cứng chịu lực cạnh bên khi bị xì hơi.
Khi được hỏi về quan điểm của mình với lốp run-flat, ông Robert tiết lộ: “Loại lốp run-flat do chúng tôi tự thiết kế có cạnh lốp cứng hơn so với lốp thông thường. Tuy nhiên, tất cả những mẫu xe hiện tại của BMW đang sử dụng loại lốp này đều có cơ cấu treo được thiết kế đặc biệt để thích ứng với công nghệ lốp mới”.
Những phản hồi bất lợi từ người sử dụng
Mặc dù được chế tạo bằng loại cao su cứng hơn nhưng lốp run-flat có tuổi thọ còn kém hơn cả những loại lốp thông thường. Theo một diễn đàn xe hơi, những khách hàng của lốp run-flat phàn nàn họ không dùng được quá 20.000 km, kể cả đối với những chiếc lốp run-flat chính hãng. Điều này thậm chí đã nảy sinh một vụ kiện mà BMW và Bridgestone đã phải cùng nhau dàn xếp mới có thể giải quyết.
Hai hãng đã phải bồi thường hoàn toàn chi phí để thay lốp mới cho các khách hàng khi họ chưa sử dụng lốp run-flat quá 10.000 km. Trong khi đó, những người phải thay lốp khi mới đi được từ 10.000-30.000km sẽ nhận lại 50% chi phí hoặc ít hơn một chút. Ngay cả khi đạt tuổi thọ trung bình khoảng 20.000 km thì lốp run-flat vẫn chỉ bền bằng phân nửa so với các loại lốp thông thường.
Trong một vụ việc tương tự, Honda đã phải ngừng việc đặt hàng lốp run-flat để trang bị cho các mẫu xe của họ sau khi chật vật dàn xếp một vụ kiện tập thể vào năm ngoái. Những người chủ xe Acura RL và Honda Odyssey đã yêu cầu hãng Honda phải giải trình về việc những chiếc lốp xe của họ có tuổi thọ thấp một cách vô lý trong khi chi phí để thay thế chúng khá đắt đỏ so với lốp thông thường.
“Tương lai của lốp run-flat có trở nên sáng sủa hơn hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính sách hỗ trợ khách hàng của các nhà sản xuất xe hơi và các nhà cung cấp thiết bị", một ý kiến cho biết.
Nếu bạn chẳng lo ngại về những nguy cơ nêu trên hoặc không thoải mái lắm với vấn đề phải tự thay lốp dự phòng khi bị thủng lốp trên đường thì có thể trang bị lốp run-flat cho xe của mình. Tuy nhiên, hãy cân nhắc với khoản chi phí bỏ ra. Trong khi đó, nếu bạn chắc chắn nhược điểm nhiều hơn ưu điểm thì hãy cẩn thận với những chiếc xe được trang bị lốp run-flat tiêu chuẩn. Những chiếc xe như thế chỉ vận hành tốt nhất với lốp run-flat, việc thay thế bằng lốp thông thường sẽ khiến chúng hoạt động kém ổn định mà thôi.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)